CPE, viết tắt của Liệt kê nền tảng phổ biến, là một lược đồ đặt tên chuẩn hóa cho phần cứng, phần mềm và hệ điều hành. CPE cung cấp lược đồ đặt tên có cấu trúc để xác định và phân loại duy nhất các hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng và gói phần mềm dựa trên các thuộc tính nhất định như nhà cung cấp, tên sản phẩm, phiên bản, cập nhật, phiên bản và ngôn ngữ.
CWE, hay Liệt kê điểm yếu phổ biến, là danh sách và phân loại toàn diện các điểm yếu và lỗ hổng phần mềm. Nó phục vụ như ngôn ngữ chung để mô tả các điểm yếu bảo mật phần mềm trong kiến trúc, thiết kế, mã hoặc triển khai có thể dẫn đến lỗ hổng.
CAPEC, viết tắt của Liệt kê và phân loại mẫu tấn công phổ biến, là tài nguyên toàn diện, có sẵn công khai ghi lại các mẫu tấn công phổ biến được đối thủ sử dụng trong các cuộc tấn công mạng. Cơ sở kiến thức này nhằm mục đích hiểu và diễn đạt các lỗ hổng phổ biến và các phương pháp kẻ tấn công sử dụng để khai thác chúng.
Dịch vụ và giá cả
Trợ giúp và thông tin
Tìm kiếm: ID CVE, ID CWE, ID CAPEC, nhà cung cấp hoặc từ khóa trong CVE
In the Linux kernel, the following vulnerability has been resolved:
arm64: ftrace: fix module PLTs with mcount
Li Huafei reports that mcount-based ftrace with module PLTs was broken
by commit:
a6253579977e4c6f ("arm64: ftrace: consistently handle PLTs.")
When a module PLTs are used and a module is loaded sufficiently far away
from the kernel, we'll create PLTs for any branches which are
out-of-range. These are separate from the special ftrace trampoline
PLTs, which the module PLT code doesn't directly manipulate.
When mcount is in use this is a problem, as each mcount callsite in a
module will be initialized to point to a module PLT, but since commit
a6253579977e4c6f ftrace_make_nop() will assume that the callsite has
been initialized to point to the special ftrace trampoline PLT, and
ftrace_find_callable_addr() rejects other cases.
This means that when ftrace tries to initialize a callsite via
ftrace_make_nop(), the call to ftrace_find_callable_addr() will find
that the `_mcount` stub is out-of-range and is not handled by the ftrace
PLT, resulting in a splat:
| ftrace_test: loading out-of-tree module taints kernel.
| ftrace: no module PLT for _mcount
| ------------[ ftrace bug ]------------
| ftrace failed to modify
| [] 0xffff800029180014
| actual: 44:00:00:94
| Initializing ftrace call sites
| ftrace record flags: 2000000
| (0)
| expected tramp: ffff80000802eb3c
| ------------[ cut here ]------------
| WARNING: CPU: 3 PID: 157 at kernel/trace/ftrace.c:2120 ftrace_bug+0x94/0x270
| Modules linked in:
| CPU: 3 PID: 157 Comm: insmod Tainted: G O 6.0.0-rc6-00151-gcd722513a189-dirty #22
| Hardware name: linux,dummy-virt (DT)
| pstate: 60000005 (nZCv daif -PAN -UAO -TCO -DIT -SSBS BTYPE=--)
| pc : ftrace_bug+0x94/0x270
| lr : ftrace_bug+0x21c/0x270
| sp : ffff80000b2bbaf0
| x29: ffff80000b2bbaf0 x28: 0000000000000000 x27: ffff0000c4d38000
| x26: 0000000000000001 x25: ffff800009d7e000 x24: ffff0000c4d86e00
| x23: 0000000002000000 x22: ffff80000a62b000 x21: ffff8000098ebea8
| x20: ffff0000c4d38000 x19: ffff80000aa24158 x18: ffffffffffffffff
| x17: 0000000000000000 x16: 0a0d2d2d2d2d2d2d x15: ffff800009aa9118
| x14: 0000000000000000 x13: 6333626532303830 x12: 3030303866666666
| x11: 203a706d61727420 x10: 6465746365707865 x9 : 3362653230383030
| x8 : c0000000ffffefff x7 : 0000000000017fe8 x6 : 000000000000bff4
| x5 : 0000000000057fa8 x4 : 0000000000000000 x3 : 0000000000000001
| x2 : ad2cb14bb5438900 x1 : 0000000000000000 x0 : 0000000000000022
| Call trace:
| ftrace_bug+0x94/0x270
| ftrace_process_locs+0x308/0x430
| ftrace_module_init+0x44/0x60
| load_module+0x15b4/0x1ce8
| __do_sys_init_module+0x1ec/0x238
| __arm64_sys_init_module+0x24/0x30
| invoke_syscall+0x54/0x118
| el0_svc_common.constprop.4+0x84/0x100
| do_el0_svc+0x3c/0xd0
| el0_svc+0x1c/0x50
| el0t_64_sync_handler+0x90/0xb8
| el0t_64_sync+0x15c/0x160
| ---[ end trace 0000000000000000 ]---
| ---------test_init-----------
Fix this by reverting to the old behaviour of ignoring the old
instruction when initialising an mcount callsite in a module, which was
the behaviour prior to commit a6253579977e4c6f.
Thông tin CVE
EPSS
EPSS là mô hình tính điểm dự đoán khả năng một lỗ hổng bị khai thác.
Điểm EPSS
Mô hình EPSS tạo ra điểm xác suất từ 0 đến 1 (0 đến 100%). Điểm càng cao, xác suất một lỗ hổng bị khai thác càng lớn.
Ngày
EPSS V0
EPSS V1
EPSS V2 (> 2022-02-04)
EPSS V3 (> 2025-03-07)
EPSS V4 (> 2025-03-17)
2025-10-23
–
–
–
–
0.02%
2025-10-28
–
–
–
–
0.02%
2025-11-18
–
–
–
–
0.02%
2025-11-21
–
–
–
–
0.02%
2025-11-23
–
–
–
–
0.03%
2025-12-18
–
–
–
–
0.03%
2025-12-19
–
–
–
–
0.03%
2025-12-25
–
–
–
–
0.03%
2026-02-22
–
–
–
–
0.04%
2026-03-22
–
–
–
–
0.02%
2026-04-05
–
–
–
–
0.03%
2026-05-10
–
–
–
–
0.03%
2026-05-31
–
–
–
–
0.03%
Phân vị EPSS
Phân vị được dùng để xếp hạng CVE theo điểm EPSS. Ví dụ, một CVE ở phân vị thứ 95 theo điểm EPSS có nhiều khả năng bị khai thác hơn 95% CVE khác. Do đó, phân vị được dùng để so sánh điểm EPSS của một CVE với các CVE khác.