CPE, viết tắt của Liệt kê nền tảng phổ biến, là một lược đồ đặt tên chuẩn hóa cho phần cứng, phần mềm và hệ điều hành. CPE cung cấp lược đồ đặt tên có cấu trúc để xác định và phân loại duy nhất các hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng và gói phần mềm dựa trên các thuộc tính nhất định như nhà cung cấp, tên sản phẩm, phiên bản, cập nhật, phiên bản và ngôn ngữ.
CWE, hay Liệt kê điểm yếu phổ biến, là danh sách và phân loại toàn diện các điểm yếu và lỗ hổng phần mềm. Nó phục vụ như ngôn ngữ chung để mô tả các điểm yếu bảo mật phần mềm trong kiến trúc, thiết kế, mã hoặc triển khai có thể dẫn đến lỗ hổng.
CAPEC, viết tắt của Liệt kê và phân loại mẫu tấn công phổ biến, là tài nguyên toàn diện, có sẵn công khai ghi lại các mẫu tấn công phổ biến được đối thủ sử dụng trong các cuộc tấn công mạng. Cơ sở kiến thức này nhằm mục đích hiểu và diễn đạt các lỗ hổng phổ biến và các phương pháp kẻ tấn công sử dụng để khai thác chúng.
Dịch vụ và giá cả
Trợ giúp và thông tin
Tìm kiếm: ID CVE, ID CWE, ID CAPEC, nhà cung cấp hoặc từ khóa trong CVE
m68k: mm: Move initrd phys_to_virt handling after paging_init()
In the Linux kernel, the following vulnerability has been resolved:
m68k: mm: Move initrd phys_to_virt handling after paging_init()
When booting with an initial ramdisk on platforms where physical memory
does not start at address zero (e.g. on Amiga):
initrd: 0ef0602c - 0f800000
Zone ranges:
DMA [mem 0x0000000008000000-0x000000f7ffffffff]
Normal empty
Movable zone start for each node
Early memory node ranges
node 0: [mem 0x0000000008000000-0x000000000f7fffff]
Initmem setup node 0 [mem 0x0000000008000000-0x000000000f7fffff]
Unable to handle kernel access at virtual address (ptrval)
Oops: 00000000
Modules linked in:
PC: [<00201d3c>] memcmp+0x28/0x56
As phys_to_virt() relies on m68k_memoffset and module_fixup(), it must
not be called before paging_init(). Hence postpone the phys_to_virt
handling for the initial ramdisk until after calling paging_init().
While at it, reduce #ifdef clutter by using IS_ENABLED() instead.
Thông tin CVE
EPSS
EPSS là mô hình tính điểm dự đoán khả năng một lỗ hổng bị khai thác.
Điểm EPSS
Mô hình EPSS tạo ra điểm xác suất từ 0 đến 1 (0 đến 100%). Điểm càng cao, xác suất một lỗ hổng bị khai thác càng lớn.
Ngày
EPSS V0
EPSS V1
EPSS V2 (> 2022-02-04)
EPSS V3 (> 2025-03-07)
EPSS V4 (> 2025-03-17)
2025-12-31
–
–
–
–
0.02%
2026-01-05
–
–
–
–
0.02%
2026-02-22
–
–
–
–
0.02%
2026-03-08
–
–
–
–
0.03%
2026-03-22
–
–
–
–
0.03%
2026-05-10
–
–
–
–
0.03%
2026-05-17
–
–
–
–
0.03%
2026-05-31
–
–
–
–
0.02%
2026-06-14
–
–
–
–
0.02%
Phân vị EPSS
Phân vị được dùng để xếp hạng CVE theo điểm EPSS. Ví dụ, một CVE ở phân vị thứ 95 theo điểm EPSS có nhiều khả năng bị khai thác hơn 95% CVE khác. Do đó, phân vị được dùng để so sánh điểm EPSS của một CVE với các CVE khác.