CPE, viết tắt của Liệt kê nền tảng phổ biến, là một lược đồ đặt tên chuẩn hóa cho phần cứng, phần mềm và hệ điều hành. CPE cung cấp lược đồ đặt tên có cấu trúc để xác định và phân loại duy nhất các hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng và gói phần mềm dựa trên các thuộc tính nhất định như nhà cung cấp, tên sản phẩm, phiên bản, cập nhật, phiên bản và ngôn ngữ.
CWE, hay Liệt kê điểm yếu phổ biến, là danh sách và phân loại toàn diện các điểm yếu và lỗ hổng phần mềm. Nó phục vụ như ngôn ngữ chung để mô tả các điểm yếu bảo mật phần mềm trong kiến trúc, thiết kế, mã hoặc triển khai có thể dẫn đến lỗ hổng.
CAPEC, viết tắt của Liệt kê và phân loại mẫu tấn công phổ biến, là tài nguyên toàn diện, có sẵn công khai ghi lại các mẫu tấn công phổ biến được đối thủ sử dụng trong các cuộc tấn công mạng. Cơ sở kiến thức này nhằm mục đích hiểu và diễn đạt các lỗ hổng phổ biến và các phương pháp kẻ tấn công sử dụng để khai thác chúng.
Dịch vụ và giá cả
Trợ giúp và thông tin
Tìm kiếm: ID CVE, ID CWE, ID CAPEC, nhà cung cấp hoặc từ khóa trong CVE
keys: Fix linking a duplicate key to a keyring's assoc_array
In the Linux kernel, the following vulnerability has been resolved:
keys: Fix linking a duplicate key to a keyring's assoc_array
When making a DNS query inside the kernel using dns_query(), the request
code can in rare cases end up creating a duplicate index key in the
assoc_array of the destination keyring. It is eventually found by
a BUG_ON() check in the assoc_array implementation and results in
a crash.
Example report:
[2158499.700025] kernel BUG at ../lib/assoc_array.c:652!
[2158499.700039] invalid opcode: 0000 [#1] SMP PTI
[2158499.700065] CPU: 3 PID: 31985 Comm: kworker/3:1 Kdump: loaded Not tainted 5.3.18-150300.59.90-default #1 SLE15-SP3
[2158499.700096] Hardware name: VMware, Inc. VMware Virtual Platform/440BX Desktop Reference Platform, BIOS 6.00 11/12/2020
[2158499.700351] Workqueue: cifsiod cifs_resolve_server [cifs]
[2158499.700380] RIP: 0010:assoc_array_insert+0x85f/0xa40
[2158499.700401] Code: ff 74 2b 48 8b 3b 49 8b 45 18 4c 89 e6 48 83 e7 fe e8 95 ec 74 00 3b 45 88 7d db 85 c0 79 d4 0f 0b 0f 0b 0f 0b e8 41 f2 be ff <0f> 0b 0f 0b 81 7d 88 ff ff ff 7f 4c 89 eb 4c 8b ad 58 ff ff ff 0f
[2158499.700448] RSP: 0018:ffffc0bd6187faf0 EFLAGS: 00010282
[2158499.700470] RAX: ffff9f1ea7da2fe8 RBX: ffff9f1ea7da2fc1 RCX: 0000000000000005
[2158499.700492] RDX: 0000000000000000 RSI: 0000000000000005 RDI: 0000000000000000
[2158499.700515] RBP: ffffc0bd6187fbb0 R08: ffff9f185faf1100 R09: 0000000000000000
[2158499.700538] R10: ffff9f1ea7da2cc0 R11: 000000005ed8cec8 R12: ffffc0bd6187fc28
[2158499.700561] R13: ffff9f15feb8d000 R14: ffff9f1ea7da2fc0 R15: ffff9f168dc0d740
[2158499.700585] FS: 0000000000000000(0000) GS:ffff9f185fac0000(0000) knlGS:0000000000000000
[2158499.700610] CS: 0010 DS: 0000 ES: 0000 CR0: 0000000080050033
[2158499.700630] CR2: 00007fdd94fca238 CR3: 0000000809d8c006 CR4: 00000000003706e0
[2158499.700702] Call Trace:
[2158499.700741] ? key_alloc+0x447/0x4b0
[2158499.700768] ? __key_link_begin+0x43/0xa0
[2158499.700790] __key_link_begin+0x43/0xa0
[2158499.700814] request_key_and_link+0x2c7/0x730
[2158499.700847] ? dns_resolver_read+0x20/0x20 [dns_resolver]
[2158499.700873] ? key_default_cmp+0x20/0x20
[2158499.700898] request_key_tag+0x43/0xa0
[2158499.700926] dns_query+0x114/0x2ca [dns_resolver]
[2158499.701127] dns_resolve_server_name_to_ip+0x194/0x310 [cifs]
[2158499.701164] ? scnprintf+0x49/0x90
[2158499.701190] ? __switch_to_asm+0x40/0x70
[2158499.701211] ? __switch_to_asm+0x34/0x70
[2158499.701405] reconn_set_ipaddr_from_hostname+0x81/0x2a0 [cifs]
[2158499.701603] cifs_resolve_server+0x4b/0xd0 [cifs]
[2158499.701632] process_one_work+0x1f8/0x3e0
[2158499.701658] worker_thread+0x2d/0x3f0
[2158499.701682] ? process_one_work+0x3e0/0x3e0
[2158499.701703] kthread+0x10d/0x130
[2158499.701723] ? kthread_park+0xb0/0xb0
[2158499.701746] ret_from_fork+0x1f/0x40
The situation occurs as follows:
* Some kernel facility invokes dns_query() to resolve a hostname, for
example, "abcdef". The function registers its global DNS resolver
cache as current->cred.thread_keyring and passes the query to
request_key_net() -> request_key_tag() -> request_key_and_link().
* Function request_key_and_link() creates a keyring_search_context
object. Its match_data.cmp method gets set via a call to
type->match_preparse() (resolves to dns_resolver_match_preparse()) to
dns_resolver_cmp().
* Function request_key_and_link() continues and invokes
search_process_keyrings_rcu() which returns that a given key was not
found. The control is then passed to request_key_and_link() ->
construct_alloc_key().
* Concurrently to that, a second task similarly makes a DNS query for
"abcdef." and its result gets inserted into the DNS resolver cache.
* Back on the first task, function construct_alloc_key() first runs
__key_link_begin() to determine an assoc_array_edit operation to
insert a new key. Index keys in the array are compared exactly as-is,
using keyring_compare_object(). The operation
---truncated---
Thông tin CVE
EPSS
EPSS là mô hình tính điểm dự đoán khả năng một lỗ hổng bị khai thác.
Điểm EPSS
Mô hình EPSS tạo ra điểm xác suất từ 0 đến 1 (0 đến 100%). Điểm càng cao, xác suất một lỗ hổng bị khai thác càng lớn.
Ngày
EPSS V0
EPSS V1
EPSS V2 (> 2022-02-04)
EPSS V3 (> 2025-03-07)
EPSS V4 (> 2025-03-17)
2025-12-31
–
–
–
–
0.02%
2026-01-05
–
–
–
–
0.03%
2026-02-22
–
–
–
–
0.04%
2026-03-08
–
–
–
–
0.04%
2026-05-10
–
–
–
–
0.05%
2026-05-31
–
–
–
–
0.03%
2026-06-14
–
–
–
–
0.04%
Phân vị EPSS
Phân vị được dùng để xếp hạng CVE theo điểm EPSS. Ví dụ, một CVE ở phân vị thứ 95 theo điểm EPSS có nhiều khả năng bị khai thác hơn 95% CVE khác. Do đó, phân vị được dùng để so sánh điểm EPSS của một CVE với các CVE khác.