CPE, viết tắt của Liệt kê nền tảng phổ biến, là một lược đồ đặt tên chuẩn hóa cho phần cứng, phần mềm và hệ điều hành. CPE cung cấp lược đồ đặt tên có cấu trúc để xác định và phân loại duy nhất các hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng và gói phần mềm dựa trên các thuộc tính nhất định như nhà cung cấp, tên sản phẩm, phiên bản, cập nhật, phiên bản và ngôn ngữ.
CWE, hay Liệt kê điểm yếu phổ biến, là danh sách và phân loại toàn diện các điểm yếu và lỗ hổng phần mềm. Nó phục vụ như ngôn ngữ chung để mô tả các điểm yếu bảo mật phần mềm trong kiến trúc, thiết kế, mã hoặc triển khai có thể dẫn đến lỗ hổng.
CAPEC, viết tắt của Liệt kê và phân loại mẫu tấn công phổ biến, là tài nguyên toàn diện, có sẵn công khai ghi lại các mẫu tấn công phổ biến được đối thủ sử dụng trong các cuộc tấn công mạng. Cơ sở kiến thức này nhằm mục đích hiểu và diễn đạt các lỗ hổng phổ biến và các phương pháp kẻ tấn công sử dụng để khai thác chúng.
Dịch vụ và giá cả
Trợ giúp và thông tin
Tìm kiếm: ID CVE, ID CWE, ID CAPEC, nhà cung cấp hoặc từ khóa trong CVE
xfs: fix out of bounds memory read error in symlink repair
In the Linux kernel, the following vulnerability has been resolved:
xfs: fix out of bounds memory read error in symlink repair
xfs/286 produced this report on my test fleet:
==================================================================
BUG: KFENCE: out-of-bounds read in memcpy_orig+0x54/0x110
Out-of-bounds read at 0xffff88843fe9e038 (184B right of kfence-#184):
memcpy_orig+0x54/0x110
xrep_symlink_salvage_inline+0xb3/0xf0 [xfs]
xrep_symlink_salvage+0x100/0x110 [xfs]
xrep_symlink+0x2e/0x80 [xfs]
xrep_attempt+0x61/0x1f0 [xfs]
xfs_scrub_metadata+0x34f/0x5c0 [xfs]
xfs_ioc_scrubv_metadata+0x387/0x560 [xfs]
xfs_file_ioctl+0xe23/0x10e0 [xfs]
__x64_sys_ioctl+0x76/0xc0
do_syscall_64+0x4e/0x1e0
entry_SYSCALL_64_after_hwframe+0x4b/0x53
kfence-#184: 0xffff88843fe9df80-0xffff88843fe9dfea, size=107, cache=kmalloc-128
allocated by task 3470 on cpu 1 at 263329.131592s (192823.508886s ago):
xfs_init_local_fork+0x79/0xe0 [xfs]
xfs_iformat_local+0xa4/0x170 [xfs]
xfs_iformat_data_fork+0x148/0x180 [xfs]
xfs_inode_from_disk+0x2cd/0x480 [xfs]
xfs_iget+0x450/0xd60 [xfs]
xfs_bulkstat_one_int+0x6b/0x510 [xfs]
xfs_bulkstat_iwalk+0x1e/0x30 [xfs]
xfs_iwalk_ag_recs+0xdf/0x150 [xfs]
xfs_iwalk_run_callbacks+0xb9/0x190 [xfs]
xfs_iwalk_ag+0x1dc/0x2f0 [xfs]
xfs_iwalk_args.constprop.0+0x6a/0x120 [xfs]
xfs_iwalk+0xa4/0xd0 [xfs]
xfs_bulkstat+0xfa/0x170 [xfs]
xfs_ioc_fsbulkstat.isra.0+0x13a/0x230 [xfs]
xfs_file_ioctl+0xbf2/0x10e0 [xfs]
__x64_sys_ioctl+0x76/0xc0
do_syscall_64+0x4e/0x1e0
entry_SYSCALL_64_after_hwframe+0x4b/0x53
CPU: 1 UID: 0 PID: 1300113 Comm: xfs_scrub Not tainted 6.18.0-rc4-djwx #rc4 PREEMPT(lazy) 3d744dd94e92690f00a04398d2bd8631dcef1954
Hardware name: QEMU Standard PC (i440FX + PIIX, 1996), BIOS 1.16.0-4.module+el8.8.0+21164+ed375313 04/01/2014
==================================================================
On further analysis, I realized that the second parameter to min() is
not correct. xfs_ifork::if_bytes is the size of the xfs_ifork::if_data
buffer. if_bytes can be smaller than the data fork size because:
(a) the forkoff code tries to keep the data area as large as possible
(b) for symbolic links, if_bytes is the ondisk file size + 1
(c) forkoff is always a multiple of 8.
Case in point: for a single-byte symlink target, forkoff will be
8 but the buffer will only be 2 bytes long.
In other words, the logic here is wrong and we walk off the end of the
incore buffer. Fix that.
Thông tin CVE
EPSS
EPSS là mô hình tính điểm dự đoán khả năng một lỗ hổng bị khai thác.
Điểm EPSS
Mô hình EPSS tạo ra điểm xác suất từ 0 đến 1 (0 đến 100%). Điểm càng cao, xác suất một lỗ hổng bị khai thác càng lớn.
Ngày
EPSS V0
EPSS V1
EPSS V2 (> 2022-02-04)
EPSS V3 (> 2025-03-07)
EPSS V4 (> 2025-03-17)
2025-12-05
–
–
–
–
0.02%
2025-12-10
–
–
–
–
0.02%
2026-01-05
–
–
–
–
0.02%
2026-02-22
–
–
–
–
0.03%
2026-03-08
–
–
–
–
0.03%
2026-03-22
–
–
–
–
0.03%
2026-04-05
–
–
–
–
0.03%
2026-05-10
–
–
–
–
0.02%
2026-05-17
–
–
–
–
0.02%
Phân vị EPSS
Phân vị được dùng để xếp hạng CVE theo điểm EPSS. Ví dụ, một CVE ở phân vị thứ 95 theo điểm EPSS có nhiều khả năng bị khai thác hơn 95% CVE khác. Do đó, phân vị được dùng để so sánh điểm EPSS của một CVE với các CVE khác.