CPE, viết tắt của Liệt kê nền tảng phổ biến, là một lược đồ đặt tên chuẩn hóa cho phần cứng, phần mềm và hệ điều hành. CPE cung cấp lược đồ đặt tên có cấu trúc để xác định và phân loại duy nhất các hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng và gói phần mềm dựa trên các thuộc tính nhất định như nhà cung cấp, tên sản phẩm, phiên bản, cập nhật, phiên bản và ngôn ngữ.
CWE, hay Liệt kê điểm yếu phổ biến, là danh sách và phân loại toàn diện các điểm yếu và lỗ hổng phần mềm. Nó phục vụ như ngôn ngữ chung để mô tả các điểm yếu bảo mật phần mềm trong kiến trúc, thiết kế, mã hoặc triển khai có thể dẫn đến lỗ hổng.
CAPEC, viết tắt của Liệt kê và phân loại mẫu tấn công phổ biến, là tài nguyên toàn diện, có sẵn công khai ghi lại các mẫu tấn công phổ biến được đối thủ sử dụng trong các cuộc tấn công mạng. Cơ sở kiến thức này nhằm mục đích hiểu và diễn đạt các lỗ hổng phổ biến và các phương pháp kẻ tấn công sử dụng để khai thác chúng.
Dịch vụ và giá cả
Trợ giúp và thông tin
Tìm kiếm: ID CVE, ID CWE, ID CAPEC, nhà cung cấp hoặc từ khóa trong CVE
In the Linux kernel, the following vulnerability has been resolved:
media: imon: make send_packet() more robust
syzbot is reporting that imon has three problems which result in
hung tasks due to forever holding device lock [1].
First problem is that when usb_rx_callback_intf0() once got -EPROTO error
after ictx->dev_present_intf0 became true, usb_rx_callback_intf0()
resubmits urb after printk(), and resubmitted urb causes
usb_rx_callback_intf0() to again get -EPROTO error. This results in
printk() flooding (RCU stalls).
Alan Stern commented [2] that
In theory it's okay to resubmit _if_ the driver has a robust
error-recovery scheme (such as giving up after some fixed limit on the
number of errors or after some fixed time has elapsed, perhaps with a
time delay to prevent a flood of errors). Most drivers don't bother to
do this; they simply give up right away. This makes them more
vulnerable to short-term noise interference during USB transfers, but in
reality such interference is quite rare. There's nothing really wrong
with giving up right away.
but imon has a poor error-recovery scheme which just retries forever;
this behavior should be fixed.
Since I'm not sure whether it is safe for imon users to give up upon any
error code, this patch takes care of only union of error codes chosen from
modules in drivers/media/rc/ directory which handle -EPROTO error (i.e.
ir_toy, mceusb and igorplugusb).
Second problem is that when usb_rx_callback_intf0() once got -EPROTO error
before ictx->dev_present_intf0 becomes true, usb_rx_callback_intf0() always
resubmits urb due to commit 8791d63af0cf ("[media] imon: don't wedge
hardware after early callbacks"). Move the ictx->dev_present_intf0 test
introduced by commit 6f6b90c9231a ("[media] imon: don't parse scancodes
until intf configured") to immediately before imon_incoming_packet(), or
the first problem explained above happens without printk() flooding (i.e.
hung task).
Third problem is that when usb_rx_callback_intf0() is not called for some
reason (e.g. flaky hardware; the reproducer for this problem sometimes
prevents usb_rx_callback_intf0() from being called),
wait_for_completion_interruptible() in send_packet() never returns (i.e.
hung task). As a workaround for such situation, change send_packet() to
wait for completion with timeout of 10 seconds.
Thông tin CVE
EPSS
EPSS là mô hình tính điểm dự đoán khả năng một lỗ hổng bị khai thác.
Điểm EPSS
Mô hình EPSS tạo ra điểm xác suất từ 0 đến 1 (0 đến 100%). Điểm càng cao, xác suất một lỗ hổng bị khai thác càng lớn.
Ngày
EPSS V0
EPSS V1
EPSS V2 (> 2022-02-04)
EPSS V3 (> 2025-03-07)
EPSS V4 (> 2025-03-17)
2025-12-17
–
–
–
–
0.02%
2025-12-22
–
–
–
–
0.03%
2026-01-17
–
–
–
–
0.04%
2026-01-18
–
–
–
–
0.06%
2026-02-22
–
–
–
–
0.05%
2026-03-01
–
–
–
–
0.05%
2026-03-29
–
–
–
–
0.05%
2026-04-26
–
–
–
–
0.07%
2026-05-17
–
–
–
–
0.04%
2026-05-31
–
–
–
–
0.06%
2026-06-14
–
–
–
–
0.06%
Phân vị EPSS
Phân vị được dùng để xếp hạng CVE theo điểm EPSS. Ví dụ, một CVE ở phân vị thứ 95 theo điểm EPSS có nhiều khả năng bị khai thác hơn 95% CVE khác. Do đó, phân vị được dùng để so sánh điểm EPSS của một CVE với các CVE khác.