CPE, viết tắt của Liệt kê nền tảng phổ biến, là một lược đồ đặt tên chuẩn hóa cho phần cứng, phần mềm và hệ điều hành. CPE cung cấp lược đồ đặt tên có cấu trúc để xác định và phân loại duy nhất các hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng và gói phần mềm dựa trên các thuộc tính nhất định như nhà cung cấp, tên sản phẩm, phiên bản, cập nhật, phiên bản và ngôn ngữ.
CWE, hay Liệt kê điểm yếu phổ biến, là danh sách và phân loại toàn diện các điểm yếu và lỗ hổng phần mềm. Nó phục vụ như ngôn ngữ chung để mô tả các điểm yếu bảo mật phần mềm trong kiến trúc, thiết kế, mã hoặc triển khai có thể dẫn đến lỗ hổng.
CAPEC, viết tắt của Liệt kê và phân loại mẫu tấn công phổ biến, là tài nguyên toàn diện, có sẵn công khai ghi lại các mẫu tấn công phổ biến được đối thủ sử dụng trong các cuộc tấn công mạng. Cơ sở kiến thức này nhằm mục đích hiểu và diễn đạt các lỗ hổng phổ biến và các phương pháp kẻ tấn công sử dụng để khai thác chúng.
Dịch vụ và giá cả
Trợ giúp và thông tin
Tìm kiếm: ID CVE, ID CWE, ID CAPEC, nhà cung cấp hoặc từ khóa trong CVE
scsi: ufs: ufs-qcom: Fix UFS OCP issue during UFS power down (PC=3)
In the Linux kernel, the following vulnerability has been resolved:
scsi: ufs: ufs-qcom: Fix UFS OCP issue during UFS power down (PC=3)
According to UFS specifications, the power-off sequence for a UFS device
includes:
- Sending an SSU command with Power_Condition=3 and await a response.
- Asserting RST_N low.
- Turning off REF_CLK.
- Turning off VCC.
- Turning off VCCQ/VCCQ2.
As part of ufs shutdown, after the SSU command completion, asserting
hardware reset (HWRST) triggers the device firmware to wake up and
execute its reset routine. This routine initializes hardware blocks and
takes a few milliseconds to complete. During this time, the ICCQ draws a
large current.
This large ICCQ current may cause issues for the regulator which is
supplying power to UFS, because the turn off request from UFS driver to
the regulator framework will be immediately followed by low power
mode(LPM) request by regulator framework. This is done by framework
because UFS which is the only client is requesting for disable. So if
the rail is still in the process of shutting down while ICCQ exceeds LPM
current thresholds, and LPM mode is activated in hardware during this
state, it may trigger an overcurrent protection (OCP) fault in the
regulator.
To prevent this, a 10ms delay is added after asserting HWRST. This
allows the reset operation to complete while power rails remain active
and in high-power mode.
Currently there is no way for Host to query whether the reset is
completed or not and hence this the delay is based on experiments with
Qualcomm UFS controllers across multiple UFS vendors.
Thông tin CVE
EPSS
EPSS là mô hình tính điểm dự đoán khả năng một lỗ hổng bị khai thác.
Điểm EPSS
Mô hình EPSS tạo ra điểm xác suất từ 0 đến 1 (0 đến 100%). Điểm càng cao, xác suất một lỗ hổng bị khai thác càng lớn.
Ngày
EPSS V0
EPSS V1
EPSS V2 (> 2022-02-04)
EPSS V3 (> 2025-03-07)
EPSS V4 (> 2025-03-17)
2025-12-17
–
–
–
–
0.02%
2025-12-22
–
–
–
–
0.02%
2026-01-17
–
–
–
–
0.03%
2026-02-22
–
–
–
–
0.03%
2026-03-01
–
–
–
–
0.03%
2026-03-08
–
–
–
–
0.03%
2026-03-22
–
–
–
–
0.03%
2026-04-26
–
–
–
–
0.04%
2026-05-10
–
–
–
–
0.04%
2026-05-17
–
–
–
–
0.02%
2026-05-31
–
–
–
–
0.03%
Phân vị EPSS
Phân vị được dùng để xếp hạng CVE theo điểm EPSS. Ví dụ, một CVE ở phân vị thứ 95 theo điểm EPSS có nhiều khả năng bị khai thác hơn 95% CVE khác. Do đó, phân vị được dùng để so sánh điểm EPSS của một CVE với các CVE khác.