CPE, viết tắt của Liệt kê nền tảng phổ biến, là một lược đồ đặt tên chuẩn hóa cho phần cứng, phần mềm và hệ điều hành. CPE cung cấp lược đồ đặt tên có cấu trúc để xác định và phân loại duy nhất các hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng và gói phần mềm dựa trên các thuộc tính nhất định như nhà cung cấp, tên sản phẩm, phiên bản, cập nhật, phiên bản và ngôn ngữ.
CWE, hay Liệt kê điểm yếu phổ biến, là danh sách và phân loại toàn diện các điểm yếu và lỗ hổng phần mềm. Nó phục vụ như ngôn ngữ chung để mô tả các điểm yếu bảo mật phần mềm trong kiến trúc, thiết kế, mã hoặc triển khai có thể dẫn đến lỗ hổng.
CAPEC, viết tắt của Liệt kê và phân loại mẫu tấn công phổ biến, là tài nguyên toàn diện, có sẵn công khai ghi lại các mẫu tấn công phổ biến được đối thủ sử dụng trong các cuộc tấn công mạng. Cơ sở kiến thức này nhằm mục đích hiểu và diễn đạt các lỗ hổng phổ biến và các phương pháp kẻ tấn công sử dụng để khai thác chúng.
Dịch vụ và giá cả
Trợ giúp và thông tin
Tìm kiếm: ID CVE, ID CWE, ID CAPEC, nhà cung cấp hoặc từ khóa trong CVE
KVM: SVM: Don't skip unrelated instruction if INT3/INTO is replaced
In the Linux kernel, the following vulnerability has been resolved:
KVM: SVM: Don't skip unrelated instruction if INT3/INTO is replaced
When re-injecting a soft interrupt from an INT3, INT0, or (select) INTn
instruction, discard the exception and retry the instruction if the code
stream is changed (e.g. by a different vCPU) between when the CPU
executes the instruction and when KVM decodes the instruction to get the
next RIP.
As effectively predicted by commit 6ef88d6e36c2 ("KVM: SVM: Re-inject
INT3/INTO instead of retrying the instruction"), failure to verify that
the correct INTn instruction was decoded can effectively clobber guest
state due to decoding the wrong instruction and thus specifying the
wrong next RIP.
The bug most often manifests as "Oops: int3" panics on static branch
checks in Linux guests. Enabling or disabling a static branch in Linux
uses the kernel's "text poke" code patching mechanism. To modify code
while other CPUs may be executing that code, Linux (temporarily)
replaces the first byte of the original instruction with an int3 (opcode
0xcc), then patches in the new code stream except for the first byte,
and finally replaces the int3 with the first byte of the new code
stream. If a CPU hits the int3, i.e. executes the code while it's being
modified, then the guest kernel must look up the RIP to determine how to
handle the #BP, e.g. by emulating the new instruction. If the RIP is
incorrect, then this lookup fails and the guest kernel panics.
The bug reproduces almost instantly by hacking the guest kernel to
repeatedly check a static branch[1] while running a drgn script[2] on
the host to constantly swap out the memory containing the guest's TSS.
[1]: https://gist.github.com/osandov/44d17c51c28c0ac998ea0334edf90b5a
[2]: https://gist.github.com/osandov/10e45e45afa29b11e0c7209247afc00b
Thông tin CVE
EPSS
EPSS là mô hình tính điểm dự đoán khả năng một lỗ hổng bị khai thác.
Điểm EPSS
Mô hình EPSS tạo ra điểm xác suất từ 0 đến 1 (0 đến 100%). Điểm càng cao, xác suất một lỗ hổng bị khai thác càng lớn.
Ngày
EPSS V0
EPSS V1
EPSS V2 (> 2022-02-04)
EPSS V3 (> 2025-03-07)
EPSS V4 (> 2025-03-17)
2025-12-17
–
–
–
–
0.02%
2025-12-22
–
–
–
–
0.02%
2026-01-12
–
–
–
–
0.03%
2026-01-17
–
–
–
–
0.04%
2026-02-22
–
–
–
–
0.05%
2026-03-01
–
–
–
–
0.05%
2026-03-29
–
–
–
–
0.05%
2026-04-26
–
–
–
–
0.07%
2026-05-17
–
–
–
–
0.04%
2026-05-31
–
–
–
–
0.06%
2026-06-07
–
–
–
–
0.06%
2026-06-14
–
–
–
–
0.06%
Phân vị EPSS
Phân vị được dùng để xếp hạng CVE theo điểm EPSS. Ví dụ, một CVE ở phân vị thứ 95 theo điểm EPSS có nhiều khả năng bị khai thác hơn 95% CVE khác. Do đó, phân vị được dùng để so sánh điểm EPSS của một CVE với các CVE khác.