CPE, viết tắt của Liệt kê nền tảng phổ biến, là một lược đồ đặt tên chuẩn hóa cho phần cứng, phần mềm và hệ điều hành. CPE cung cấp lược đồ đặt tên có cấu trúc để xác định và phân loại duy nhất các hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng và gói phần mềm dựa trên các thuộc tính nhất định như nhà cung cấp, tên sản phẩm, phiên bản, cập nhật, phiên bản và ngôn ngữ.
CWE, hay Liệt kê điểm yếu phổ biến, là danh sách và phân loại toàn diện các điểm yếu và lỗ hổng phần mềm. Nó phục vụ như ngôn ngữ chung để mô tả các điểm yếu bảo mật phần mềm trong kiến trúc, thiết kế, mã hoặc triển khai có thể dẫn đến lỗ hổng.
CAPEC, viết tắt của Liệt kê và phân loại mẫu tấn công phổ biến, là tài nguyên toàn diện, có sẵn công khai ghi lại các mẫu tấn công phổ biến được đối thủ sử dụng trong các cuộc tấn công mạng. Cơ sở kiến thức này nhằm mục đích hiểu và diễn đạt các lỗ hổng phổ biến và các phương pháp kẻ tấn công sử dụng để khai thác chúng.
Dịch vụ và giá cả
Trợ giúp và thông tin
Tìm kiếm: ID CVE, ID CWE, ID CAPEC, nhà cung cấp hoặc từ khóa trong CVE
afs: Fix delayed allocation of a cell's anonymous key
In the Linux kernel, the following vulnerability has been resolved:
afs: Fix delayed allocation of a cell's anonymous key
The allocation of a cell's anonymous key is done in a background thread
along with other cell setup such as doing a DNS upcall. In the reported
bug, this is triggered by afs_parse_source() parsing the device name given
to mount() and calling afs_lookup_cell() with the name of the cell.
The normal key lookup then tries to use the key description on the
anonymous authentication key as the reference for request_key() - but it
may not yet be set and so an oops can happen.
This has been made more likely to happen by the fix for dynamic lookup
failure.
Fix this by firstly allocating a reference name and attaching it to the
afs_cell record when the record is created. It can share the memory
allocation with the cell name (unfortunately it can't just overlap the cell
name by prepending it with "afs@" as the cell name already has a '.'
prepended for other purposes). This reference name is then passed to
request_key().
Secondly, the anon key is now allocated on demand at the point a key is
requested in afs_request_key() if it is not already allocated. A mutex is
used to prevent multiple allocation for a cell.
Thirdly, make afs_request_key_rcu() return NULL if the anonymous key isn't
yet allocated (if we need it) and then the caller can return -ECHILD to
drop out of RCU-mode and afs_request_key() can be called.
Note that the anonymous key is kind of necessary to make the key lookup
cache work as that doesn't currently cache a negative lookup, but it's
probably worth some investigation to see if NULL can be used instead.
Thông tin CVE
EPSS
EPSS là mô hình tính điểm dự đoán khả năng một lỗ hổng bị khai thác.
Điểm EPSS
Mô hình EPSS tạo ra điểm xác suất từ 0 đến 1 (0 đến 100%). Điểm càng cao, xác suất một lỗ hổng bị khai thác càng lớn.
Ngày
EPSS V0
EPSS V1
EPSS V2 (> 2022-02-04)
EPSS V3 (> 2025-03-07)
EPSS V4 (> 2025-03-17)
2025-12-17
–
–
–
–
0.03%
2025-12-18
–
–
–
–
0.03%
2025-12-20
–
–
–
–
0.03%
2025-12-22
–
–
–
–
0.04%
2026-01-10
–
–
–
–
0.05%
2026-01-17
–
–
–
–
0.05%
2026-02-22
–
–
–
–
0.1%
2026-04-26
–
–
–
–
0.12%
2026-05-10
–
–
–
–
0.12%
2026-05-17
–
–
–
–
0.07%
2026-05-31
–
–
–
–
0.08%
Phân vị EPSS
Phân vị được dùng để xếp hạng CVE theo điểm EPSS. Ví dụ, một CVE ở phân vị thứ 95 theo điểm EPSS có nhiều khả năng bị khai thác hơn 95% CVE khác. Do đó, phân vị được dùng để so sánh điểm EPSS của một CVE với các CVE khác.