CPE, viết tắt của Liệt kê nền tảng phổ biến, là một lược đồ đặt tên chuẩn hóa cho phần cứng, phần mềm và hệ điều hành. CPE cung cấp lược đồ đặt tên có cấu trúc để xác định và phân loại duy nhất các hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng và gói phần mềm dựa trên các thuộc tính nhất định như nhà cung cấp, tên sản phẩm, phiên bản, cập nhật, phiên bản và ngôn ngữ.
CWE, hay Liệt kê điểm yếu phổ biến, là danh sách và phân loại toàn diện các điểm yếu và lỗ hổng phần mềm. Nó phục vụ như ngôn ngữ chung để mô tả các điểm yếu bảo mật phần mềm trong kiến trúc, thiết kế, mã hoặc triển khai có thể dẫn đến lỗ hổng.
CAPEC, viết tắt của Liệt kê và phân loại mẫu tấn công phổ biến, là tài nguyên toàn diện, có sẵn công khai ghi lại các mẫu tấn công phổ biến được đối thủ sử dụng trong các cuộc tấn công mạng. Cơ sở kiến thức này nhằm mục đích hiểu và diễn đạt các lỗ hổng phổ biến và các phương pháp kẻ tấn công sử dụng để khai thác chúng.
Dịch vụ và giá cả
Trợ giúp và thông tin
Tìm kiếm: ID CVE, ID CWE, ID CAPEC, nhà cung cấp hoặc từ khóa trong CVE
In the Linux kernel, the following vulnerability has been resolved:
drm/vmwgfx: avoid destroy_workqueue(NULL) on vkms init failure
Two paths through vmw_vkms_init() can leave vmw->crc_workq NULL while
still leaving the rest of the driver in a state that calls
vmw_vkms_cleanup() at module unload:
1. vmw_host_get_guestinfo(GUESTINFO_VBLANK, ...) failing or
returning an oversized buffer -- the common case on hosts
without a VBLANK guestinfo entry -- early-returned before the
workqueue allocation.
2. alloc_ordered_workqueue() returning NULL on memory pressure.
vmw_vkms_cleanup() then calls destroy_workqueue(NULL), which
dereferences wq->name and panics.
Fix the first case by removing the early return: vmw->vkms_enabled
is already false on the rpci-failure path so no work will ever be
queued, and allocating the workqueue unconditionally keeps the
control flow simple. Fix the second case by guarding the cleanup
with a NULL check, since alloc_ordered_workqueue() can still fail
under low memory.