CPE, viết tắt của Liệt kê nền tảng phổ biến, là một lược đồ đặt tên chuẩn hóa cho phần cứng, phần mềm và hệ điều hành. CPE cung cấp lược đồ đặt tên có cấu trúc để xác định và phân loại duy nhất các hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng và gói phần mềm dựa trên các thuộc tính nhất định như nhà cung cấp, tên sản phẩm, phiên bản, cập nhật, phiên bản và ngôn ngữ.
CWE, hay Liệt kê điểm yếu phổ biến, là danh sách và phân loại toàn diện các điểm yếu và lỗ hổng phần mềm. Nó phục vụ như ngôn ngữ chung để mô tả các điểm yếu bảo mật phần mềm trong kiến trúc, thiết kế, mã hoặc triển khai có thể dẫn đến lỗ hổng.
CAPEC, viết tắt của Liệt kê và phân loại mẫu tấn công phổ biến, là tài nguyên toàn diện, có sẵn công khai ghi lại các mẫu tấn công phổ biến được đối thủ sử dụng trong các cuộc tấn công mạng. Cơ sở kiến thức này nhằm mục đích hiểu và diễn đạt các lỗ hổng phổ biến và các phương pháp kẻ tấn công sử dụng để khai thác chúng.
Dịch vụ và giá cả
Trợ giúp và thông tin
Tìm kiếm: ID CVE, ID CWE, ID CAPEC, nhà cung cấp hoặc từ khóa trong CVE
In the Linux kernel, the following vulnerability has been resolved:
ipv6: fix use-after-free in ip6_finish_output2()
ip6_finish_output2() caches a pointer to the IPv6 destination
address (daddr) before invoking lwtunnel_xmit(). The LWT-BPF
transmit path or other encapsulation operations within
lwtunnel_xmit() can reallocate the skb head, freeing the memory
that daddr points to. When lwtunnel_xmit() returns
LWTUNNEL_XMIT_CONTINUE, the function continues to use the stale
daddr pointer to compute the nexthop and to look up or create the
neighbour entry. This results in a use-after-free read, which can
leak sensitive kernel data, pollute the neighbour table with
arbitrary values, misdirect traffic, or crash the system.
Fix this by re-fetching the IPv6 header and the destination
address pointer after lwtunnel_xmit() returns
LWTUNNEL_XMIT_CONTINUE, ensuring that the subsequent nexthop
computation and neighbour lookup operate on valid memory.