CPE, viết tắt của Liệt kê nền tảng phổ biến, là một lược đồ đặt tên chuẩn hóa cho phần cứng, phần mềm và hệ điều hành. CPE cung cấp lược đồ đặt tên có cấu trúc để xác định và phân loại duy nhất các hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng và gói phần mềm dựa trên các thuộc tính nhất định như nhà cung cấp, tên sản phẩm, phiên bản, cập nhật, phiên bản và ngôn ngữ.
CWE, hay Liệt kê điểm yếu phổ biến, là danh sách và phân loại toàn diện các điểm yếu và lỗ hổng phần mềm. Nó phục vụ như ngôn ngữ chung để mô tả các điểm yếu bảo mật phần mềm trong kiến trúc, thiết kế, mã hoặc triển khai có thể dẫn đến lỗ hổng.
CAPEC, viết tắt của Liệt kê và phân loại mẫu tấn công phổ biến, là tài nguyên toàn diện, có sẵn công khai ghi lại các mẫu tấn công phổ biến được đối thủ sử dụng trong các cuộc tấn công mạng. Cơ sở kiến thức này nhằm mục đích hiểu và diễn đạt các lỗ hổng phổ biến và các phương pháp kẻ tấn công sử dụng để khai thác chúng.
Dịch vụ và giá cả
Trợ giúp và thông tin
Tìm kiếm: ID CVE, ID CWE, ID CAPEC, nhà cung cấp hoặc từ khóa trong CVE
In the Linux kernel, the following vulnerability has been resolved:
nvmet: pci-epf: put CQ ref on create_cq mapping failure
nvmet_pci_epf_create_cq() calls nvmet_cq_create(), which takes a
reference on the controller and installs the completion queue. If the
subsequent PCI address-space mapping fails or returns a too-small partial
mapping, the function jumps to err_internal / err_unmap_queue without
calling nvmet_cq_put(). The matching put in nvmet_pci_epf_delete_cq() is
gated on NVMET_PCI_EPF_Q_LIVE, which is only set after the mapping
succeeds, so teardown never releases these references. A remote PCI host
that drives Create IO CQ commands with a failing PRP1/pci_addr therefore
leaks the CQ and a controller reference on each attempt.
Drop the CQ reference on the mapping-failure paths. The err_internal and
err_unmap_queue labels are only reachable after nvmet_cq_create() has
succeeded, so this pairs the create/put correctly.