CPE, viết tắt của Liệt kê nền tảng phổ biến, là một lược đồ đặt tên chuẩn hóa cho phần cứng, phần mềm và hệ điều hành. CPE cung cấp lược đồ đặt tên có cấu trúc để xác định và phân loại duy nhất các hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng và gói phần mềm dựa trên các thuộc tính nhất định như nhà cung cấp, tên sản phẩm, phiên bản, cập nhật, phiên bản và ngôn ngữ.
CWE, hay Liệt kê điểm yếu phổ biến, là danh sách và phân loại toàn diện các điểm yếu và lỗ hổng phần mềm. Nó phục vụ như ngôn ngữ chung để mô tả các điểm yếu bảo mật phần mềm trong kiến trúc, thiết kế, mã hoặc triển khai có thể dẫn đến lỗ hổng.
CAPEC, viết tắt của Liệt kê và phân loại mẫu tấn công phổ biến, là tài nguyên toàn diện, có sẵn công khai ghi lại các mẫu tấn công phổ biến được đối thủ sử dụng trong các cuộc tấn công mạng. Cơ sở kiến thức này nhằm mục đích hiểu và diễn đạt các lỗ hổng phổ biến và các phương pháp kẻ tấn công sử dụng để khai thác chúng.
Dịch vụ và giá cả
Trợ giúp và thông tin
Tìm kiếm: ID CVE, ID CWE, ID CAPEC, nhà cung cấp hoặc từ khóa trong CVE
In the Linux kernel, the following vulnerability has been resolved:
net/sched: hhf: clamp quantum before hhf_change() to avoid overflow
hhf_init() sets q->quantum = psched_mtu(qdisc_dev(sch)) with no overflow
check. A device with a huge MTU (e.g. dummy with max_mtu == 0 accepting
MTU 2147483634) makes weight * quantum overflow the signed deficit in
hhf_dequeue(), spinning forever.
Clamp q->quantum before hhf_change() so both the opt and !opt paths see
a sane quantum. Without this, bare "tc qdisc add ... hhf" succeeds with
a clamped quantum but "tc qdisc add ... hhf limit 1000" (any option
present) fails with -EINVAL because hhf_change() re-validates the
unclamped default (sch_hhf.c:559). 256 matches fq_codel's floor and is
a sane minimum for a DRR quantum.
Conditions to recreate the bug: a device whose MTU (plus
hard_header_len) wraps psched_mtu() into the sign bit (e.g. a dummy
device with max_mtu == 0 accepting MTU 2147483634). Requires
CAP_NET_ADMIN in a user namespace.