CPE, viết tắt của Liệt kê nền tảng phổ biến, là một lược đồ đặt tên chuẩn hóa cho phần cứng, phần mềm và hệ điều hành. CPE cung cấp lược đồ đặt tên có cấu trúc để xác định và phân loại duy nhất các hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng và gói phần mềm dựa trên các thuộc tính nhất định như nhà cung cấp, tên sản phẩm, phiên bản, cập nhật, phiên bản và ngôn ngữ.
CWE, hay Liệt kê điểm yếu phổ biến, là danh sách và phân loại toàn diện các điểm yếu và lỗ hổng phần mềm. Nó phục vụ như ngôn ngữ chung để mô tả các điểm yếu bảo mật phần mềm trong kiến trúc, thiết kế, mã hoặc triển khai có thể dẫn đến lỗ hổng.
CAPEC, viết tắt của Liệt kê và phân loại mẫu tấn công phổ biến, là tài nguyên toàn diện, có sẵn công khai ghi lại các mẫu tấn công phổ biến được đối thủ sử dụng trong các cuộc tấn công mạng. Cơ sở kiến thức này nhằm mục đích hiểu và diễn đạt các lỗ hổng phổ biến và các phương pháp kẻ tấn công sử dụng để khai thác chúng.
Dịch vụ và giá cả
Trợ giúp và thông tin
Tìm kiếm: ID CVE, ID CWE, ID CAPEC, nhà cung cấp hoặc từ khóa trong CVE
In the Linux kernel, the following vulnerability has been resolved:
iommu/tegra241-cmdqv: Free the error IRQ before tearing down VINTFs
tegra241_cmdqv_remove() tears each VINTF down first, then calls free_irq().
Tearing a VINTF down frees vintf0 and clears cmdqv->vintfs[0]. An error in
that window makes tegra241_cmdqv_isr() read the stale slot and hand it to
tegra241_vintf0_handle_error(), which dereferences a NULL or freed pointer.
Free the IRQ before tearing the VINTFs down. free_irq() waits for in-flight
handlers to finish and blocks new ones, so no ISR can observe a VINTF as it
is torn down.
Note: a user-owned VINTF (viommu) could outlive this teardown, which unmaps
cmdqv->base and frees cmdqv->vintfs, so a later viommu close then touches
freed memory. This is neither introduced nor fixed here: a physical IOMMU
is not a pluggable device, so iommufd by design holds no reference on the
one behind a viommu, and this teardown is not expected while that viommu is
still alive.