CPE, viết tắt của Liệt kê nền tảng phổ biến, là một lược đồ đặt tên chuẩn hóa cho phần cứng, phần mềm và hệ điều hành. CPE cung cấp lược đồ đặt tên có cấu trúc để xác định và phân loại duy nhất các hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng và gói phần mềm dựa trên các thuộc tính nhất định như nhà cung cấp, tên sản phẩm, phiên bản, cập nhật, phiên bản và ngôn ngữ.
CWE, hay Liệt kê điểm yếu phổ biến, là danh sách và phân loại toàn diện các điểm yếu và lỗ hổng phần mềm. Nó phục vụ như ngôn ngữ chung để mô tả các điểm yếu bảo mật phần mềm trong kiến trúc, thiết kế, mã hoặc triển khai có thể dẫn đến lỗ hổng.
CAPEC, viết tắt của Liệt kê và phân loại mẫu tấn công phổ biến, là tài nguyên toàn diện, có sẵn công khai ghi lại các mẫu tấn công phổ biến được đối thủ sử dụng trong các cuộc tấn công mạng. Cơ sở kiến thức này nhằm mục đích hiểu và diễn đạt các lỗ hổng phổ biến và các phương pháp kẻ tấn công sử dụng để khai thác chúng.
Dịch vụ và giá cả
Trợ giúp và thông tin
Tìm kiếm: ID CVE, ID CWE, ID CAPEC, nhà cung cấp hoặc từ khóa trong CVE
In the Linux kernel, the following vulnerability has been resolved:
ext4: skip extra isize expansion during mount to prevent deadlock
ext4_try_to_expand_extra_isize() is called from __ext4_mark_inode_dirty()
while holding an active jbd2 handle. During mount (!SB_ACTIVE), the
expand path may move xattrs to external blocks and release ea_inodes via
iput(). When !SB_ACTIVE, iput() calls write_inode_now() which acquires
s_writepages_rwsem, creating a circular lock dependency:
s_writepages_rwsem --> jbd2_handle --> xattr_sem --> s_writepages_rwsem
This can be triggered via:
ext4_process_orphan() -> ext4_truncate() -> ext4_mark_inode_dirty()
-> ext4_try_to_expand_extra_isize()
or:
ext4_evict_inode() -> ext4_mark_inode_dirty()
-> ext4_try_to_expand_extra_isize()
Skip expansion when !SB_ACTIVE. This is a minor loss of functionality
(extra isize won't grow for these inodes during mount), which e2fsck
can resolve later if needed.