CPE, viết tắt của Liệt kê nền tảng phổ biến, là một lược đồ đặt tên chuẩn hóa cho phần cứng, phần mềm và hệ điều hành. CPE cung cấp lược đồ đặt tên có cấu trúc để xác định và phân loại duy nhất các hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng và gói phần mềm dựa trên các thuộc tính nhất định như nhà cung cấp, tên sản phẩm, phiên bản, cập nhật, phiên bản và ngôn ngữ.
CWE, hay Liệt kê điểm yếu phổ biến, là danh sách và phân loại toàn diện các điểm yếu và lỗ hổng phần mềm. Nó phục vụ như ngôn ngữ chung để mô tả các điểm yếu bảo mật phần mềm trong kiến trúc, thiết kế, mã hoặc triển khai có thể dẫn đến lỗ hổng.
CAPEC, viết tắt của Liệt kê và phân loại mẫu tấn công phổ biến, là tài nguyên toàn diện, có sẵn công khai ghi lại các mẫu tấn công phổ biến được đối thủ sử dụng trong các cuộc tấn công mạng. Cơ sở kiến thức này nhằm mục đích hiểu và diễn đạt các lỗ hổng phổ biến và các phương pháp kẻ tấn công sử dụng để khai thác chúng.
Dịch vụ và giá cả
Trợ giúp và thông tin
Tìm kiếm: ID CVE, ID CWE, ID CAPEC, nhà cung cấp hoặc từ khóa trong CVE
In the Linux kernel, the following vulnerability has been resolved:
smb/client: flush dirty data before punching a hole
Punching a hole after a large buffered write may leave the range
reported as data. Reproduce it with:
xfs_io -f \
-c "pwrite -b 3m -S 0x61 0 3m" \
-c "fpunch 1m 1m" \
-c "seek -h 0" \
-c "seek -d 1m" \
/mnt/test/repro
Punching 1 MiB at offset 1 MiB should produce:
0 1 MiB 2 MiB 3 MiB
| DATA | HOLE | DATA | EOF
Instead, the entire file is reported as data. SEEK_HOLE(0) returns EOF,
and SEEK_DATA(1M) returns 1M.
This happens because a dirty folio spanning the punched range can be
written back after the punch and refill the hole.
Fix this by flushing and waiting for dirty data in the punched range
before invalidating the page cache and issuing FSCTL_SET_ZERO_DATA.
The xfstests generic/539 pass against Samba/ksmbd with this change.