CPE, viết tắt của Liệt kê nền tảng phổ biến, là một lược đồ đặt tên chuẩn hóa cho phần cứng, phần mềm và hệ điều hành. CPE cung cấp lược đồ đặt tên có cấu trúc để xác định và phân loại duy nhất các hệ thống công nghệ thông tin, nền tảng và gói phần mềm dựa trên các thuộc tính nhất định như nhà cung cấp, tên sản phẩm, phiên bản, cập nhật, phiên bản và ngôn ngữ.
CWE, hay Liệt kê điểm yếu phổ biến, là danh sách và phân loại toàn diện các điểm yếu và lỗ hổng phần mềm. Nó phục vụ như ngôn ngữ chung để mô tả các điểm yếu bảo mật phần mềm trong kiến trúc, thiết kế, mã hoặc triển khai có thể dẫn đến lỗ hổng.
CAPEC, viết tắt của Liệt kê và phân loại mẫu tấn công phổ biến, là tài nguyên toàn diện, có sẵn công khai ghi lại các mẫu tấn công phổ biến được đối thủ sử dụng trong các cuộc tấn công mạng. Cơ sở kiến thức này nhằm mục đích hiểu và diễn đạt các lỗ hổng phổ biến và các phương pháp kẻ tấn công sử dụng để khai thác chúng.
Dịch vụ và giá cả
Trợ giúp và thông tin
Tìm kiếm: ID CVE, ID CWE, ID CAPEC, nhà cung cấp hoặc từ khóa trong CVE
In the Linux kernel, the following vulnerability has been resolved:
ksmbd: fill in FileSysIdentifier in FS_POSIX_INFORMATION
smb2_get_info_filesystem() reports 56 bytes for FS_POSIX_INFORMATION,
that is the whole of FILE_SYSTEM_POSIX_INFO, but never assigns
FileSysIdentifier. Those eight bytes go to the client as they are found
in the response buffer.
The buffer is zeroed on allocation, so a standalone request leaks
nothing. A compound request can leak: the offset of the next response
is advanced by the length pinned for the previous one, so a reply that
was written into the buffer and then dropped in favour of the short
error response of smb2_set_err_rsp() stays there, and the next reply is
laid over it with only the header cleared.
Report the file system id statfs() returned, which is what the field is
for. FileSysIdentifier is __le64 and f_fsid is a pair of ints, so
assemble the value first, val[0] as the low half, and convert it on the
way out.